Latest News

 

Vợ chồng cựu học viên Học bổng Chính phủ Australia dùng kết quả nghiên cứu để vận động cho các cộng đồng khó khăn

Bắt đầu sự nghiệp của mình từ giữa những năm 1980, khi Việt Nam đang ở trong một thời kỳ rất khó khăn, trước khi có chính sách mở cửa, hai cựu học viên Học bổng Chính phủ Australia Ngắn hạn và cũng là hai vợ chồng, Tiến sĩ Lê Bạch Dương và Tiến sĩ Khuất Thu Hồng qua bao năm tháng vẫn giữ vững tình yêu với nghiên cứu xã hội. Hai anh chị về sau trở thành những nhà trí thức nổi tiếng vận động cho quyền và lợi ích của các cộng đồng yếm thế ở Việt Nam.

Lần đầu tiên hai anh chị đến nước Úc là vào tháng 10/1990 để theo học chương trình nghiên cứu 3 tháng về các vấn đề dân số tại Đại học Quốc gia Australia, theo học bổng của UNFPA nhằm phát triển năng lực nghiên cứu cho Việt Nam trong lĩnh vực dân số và kế hoạch hóa gia đình.

Hong ANU library Oct 1990

Chị Khuất Thu Hồng tại thư viện Đại học Quốc gia Australia tháng 10/1990.

“Ấn tượng đầu tiên thật là tuyệt vời bởi bầu trời cao và xanh biếc, những cánh rừng bạch đàn trên đường từ sân bay Canberra về đến thành phố, rồi những rặng hoa mận tím hồng nở tràn trong khuôn viên của ANU. Những ngày đầu tiên chúng tôi say mê chụp ảnh những ngôi nhà kính sáng loáng và cao vút (đối với chúng tôi khi đó là chọc trời!) ở khu trung tâm hay những thảm cỏ xanh mướt bên hồ Griffith. Nhưng có lẽ hấp dẫn hơn cả với chúng tôi là thư viện của ANU. Chưa bao giờ chúng tôi nhìn thấy một kho tư liệu nhiều đến như vậy. Ngày nào chúng tôi cũng ở đó, say mê tìm tòi, tra cứu, đọc và ghi chép quên cả ăn. Chuyến đi đầu tiên đến nước Úc đã mở ra cánh cửa đến một thế giới mới, thay đổi chúng tôi một cách căn bản, cả trong quan điểm chính trị xã hội, cả cách làm việc và lối sống”, chị Khuất Thu Hồng kể lại.

Hai nhà nghiên cứu còn trở lại Australia nhiều lần. Vào năm 2009 khi đến Australia theo Học bổng Chính phủ Australia Ngắn hạn, họ có cơ hội làm việc cùng Viện Nossal vì Y tế Toàn cầu (Đại học Melbourne) trong dự án “Giảm tác hại của chất gây nghiện và Định kiến đối với người nhiễm HIV ”. Bài báo “Giảm tác hại của chất gây nghiện và “Cộng đồng sạch”: Liệu Việt Nam có thể có cả hai?” (1) là kết quả của dự án này.

Ngoài duy trì quan hệ với các thầy giáo, các đồng nghiệp ở Úc, Tiến sĩ Khuất Thu Hồng và Tiến sĩ Lê Bạch Dương cũng tiếp nhận các sinh viên từ các trường đại học của Úc đến thực tập tại tổ chức phi chính phủ do anh chị đứng đầu, Viện Nghiên cứu Phát triển Xã hội (ISDS).

Mss Hong2

Chị Khuất Thu Hồng và anh Lê Bạch Dương.

Trong giới học giả, Tiến sĩ Khuất Thu Hồng nổi tiếng về các nghiên cứu về giới, với các nghiên cứu được xuất bản quốc tế như “ “Quấy rối tình dục ở Việt Nam: Một thuật ngữ mới cho một hiện tượng cũ (2) hay “Những chuyển đổi về giới, tình thân và canh tác ở Việt Nam” (3). Chị cũng thường xuất hiện trên truyền thông để nói về tình dục, một chủ đề kiêng kỵ ở Việt Nam.

Trong khi đó, Tiến sĩ Lê Bạch Dương lại nổi tiếng về các nghiên cứu các vấn đề xã hội quan trọng. Cũng như chị Hồng, anh có nhiều nghiên cứu xuất bản ở nước ngoài như “Thúc đẩy Xuất khẩu Lao động vì An ninh và Phồn vinh: Câu chuyện của Việt Nam (4) hay “Bảo vệ Xã hội và Cải cách Thị trường ở Việt Nam (5).

Hai anh chị cũng cùng tham gia trong hàng loạt công trình, ví dụ “Từ Vợ Nông dân đến làm Vợ ở nước ngoài: Hôn nhân, Di cư và Giới trong các Cộng đồng Việt Nam” (6), “Cơ chế Hậu Xã hội Chủ Nghĩa và Những Thách thức với Cơ cấu Gắn kết Xã hội ở Việt Nam (7) và “Hôn nhân xuyên quốc gia và Mô hình Phúc lợi Gia đình Đông Á: Sự tái tạo Xã hội ở Việt Nam, Đài Loan và Hàn Quốc (8)”.

MsHong

Anh Lê Bạch Dương và chị Khuất Thu Hồng.

“Chúng tôi có may mắn được làm cùng một công việc, lại thường được làm việc cùng nhau, vì thế việc cân bằng giữa cuộc sống gia đình và công việc có thể dễ dàng hơn những người khác. Chúng tôi luôn luôn chia sẻ với nhau mọi điều, kể cả niềm vui khi nhận được tài trợ cho nghiên cứu hay nỗi thất vọng khi đề xuất bị từ chối. Hiểu rõ bản chất của công việc nghiên cứu nhưng vì cùng yêu thích nó nên chúng tôi luôn cùng nhau chia sẻ những giây phút thư giãn hiếm hoi sau mỗi dự án cũng như áp lực gần như triền miên của việc tìm kiếm nguồn lực, của việc học hỏi các lý thuyết mới và vận dụng chúng vào bối cảnh đặc thù của Việt Nam,” hai anh chị cho biết.

Hai nhà nghiên cứu thường triển khai vận động chính sách trên cơ sở các kết quả nghiên cứu. Ví dụ, từ những kết quả nghiên cứu và can thiệp về kỳ thị đối với những người sống chung với HIV/AIDS, anh Lê Bạch Dương và chị Khuất Thu Hồng tham gia vận động xây dựng Luật Phòng chống HIV/AIDS 2006. Kết quả là Luật đã được ban hành trong đó vấn đề chống kỳ thị đối với người nhiễm HIV đã được đề cập trong các Điều 2, 8, 14, 15 và 17. ISDS cũng tích cực tham gia vào quá trình xây dựng Luật về Người Khuyết tật 2010 và cụ thể là nội dung của các Điều 2, Điều 13, Điều 14 về kỳ thị đối với người khuyết tật.

Ngoài ra ISDS và hai anh chị cũng tham gia vào quá trình tham vấn về các vấn đề giới trong xây dựng các Luật Bình đẳng Giới 2006, Luật Phòng chống Bạo lực Gia đình 2007, Luật Đất đai 2013 và Luật Dân sự sửa đổi.

Mỗi nghiên cứu đều để lại những kỷ niệm sâu sắc. Đáng nhớ nhất đối với hai anh chị là nghiên cứu về người khuyết tật.

“Lần đó chúng tôi gặp một người khuyết tật nặng, đã trưởng thành nhưng bạn ấy chỉ nhỏ như một em bé, nằm trong xe nôi, chúng tôi nhớ là mình đã không thể kìm nổi nước mắt khi nghe bạn ấy chia sẻ ước mơ về tình yêu, tình dục, về hạnh phúc khi được sống, được hoà nhập xã hội. Hoặc lần chúng tôi gặp một người khuyết tật tâm trí bị gia đình nhốt trong một cái cũi khoá chặt. Chúng tôi thấy tim mình thắt lại mỗi khi nhớ về hình ảnh bạn ấy nằm ủ rũ ở góc cũi. Những hình ảnh đó thôi thúc chúng tôi phải lên tiếng cùng với những người khuyết tật, đấu tranh cho quyền bình đẳng của họ trong mọi khía cạnh của cuộc sống,” anh chị chia sẻ.

Để nghiên cứu các cộng đồng yếm thế, anh chị phải vượt qua hàng loạt thách thức, như lời hai anh chị giải thích.

“Trong một xã hội còn tồn tại bất bình đẳng giới và kỳ thị với những người khuyết tật, người sống chung với HIV, LGBT hay những người sử dụng ma tuý, hoạt động mại dâm … việc nghiên cứu về các nhóm này không hề dễ dàng. Trước hết, bản thân chúng tôi phải học để vượt qua những ảnh hưởng của xã hội đối với chính nhận thức của bản thân mình đối với các nhóm đó, vì nếu bản thân người nghiên cứu còn định kiến và kỳ thị thì chắc chắn khó mà đưa ra kết quả khách quan. Tiếp theo là làm sao để các nhóm được nghiên cứu hiểu việc làm của chúng tôi và hợp tác để nghiên cứu thành công. Khó khăn cuối cùng và là khó khăn lớn nhất là làm thế nào để kết quả nghiên cứu được chấp nhận, được coi là có ý nghĩa với các nhà làm chính sách và với công chúng và góp phần thay đổi quan niệm, thái độ của mọi người đối với các nhóm được nghiên cứu, góp phần vào việc cải thiện chính sách đối với họ”.

Hai nhà nghiên cứu cũng phải vượt qua nhiều định kiến khi lên tiếng giúp cho các cộng đồng khó khăn. Ví dụ, anh chị từng bị từng bị chế diễu khi đề xuất đưa nội dung bạo lực tình dục vào Luật Phòng chống Bạo lực Gia đình hoặc bị nghi ngờ là nhiễm HIV khi nêu yêu cầu phải đưa nội dung không phân biệt đối xử đối với phụ nữ nhiễm HIV vào Luật Bình đẳng Giới. Anh chị cũng thường bị gán ghép những động cơ xấu khi vận động giáo dục giới tính và tình dục.

“Nhưng bù lại, trong hơn 30 năm làm nghiên cứu chúng tôi cũng gặp rất nhiều người tốt, nhận được sự giúp đỡ và yêu mến của người dân ở nhiều vùng miền trên cả nước. Họ là lý do để chúng tôi yêu công việc của mình và là động lực để chúng tôi cố gắng hơn,” anh chị tâm sự.

“Chúng tôi tin vào mục đích của công việc mình đang làm là để bảo vệ quyền của con người và vì sự công bằng xã hội. Và đó là các giá trị mà chúng tôi cùng theo đuổi”, anh chị cho biết.

(1)Tạp chí Giảm Tác hại 9(1): 25/7/2012

(2)Tập quán về giới ở Việt Nam đương đại, NIAS Press, Singapore, 2004

(3)Quyền sử dụng đất, Giới và Toàn cầu hóa: Nghiên cứu và Phân tích từ chau Phi, chau Á và Mỹ Latinh, ZUBAAN & IDRC, 2010

(4)Châu Á Chuyển Động: Di cư trong khu vực và Vai trò của Xã hội Dân sự. Trung tâm Nhật bản Trao đổi Quốc tế. Tokyo, 2015

(5)Bảo vệ xã hội – Chính sách phát triển: Những Khía cạnh của châu Á, Routledge, 2010

(6)Sự gần gũi và dư luận theo khía cạnh chau Á và Toàn Cầu, Lieden – Boston: Brill, 2014

(7)Hội nhập Khu vực và Gắn kết xã hội, nhìn từ thế giới đang phát triển, Brussel: P.I.E. Peter Lang, 2013

(8)Di cư, Giới và Công lý Xã hội: Những khía cạnh về An ninh của Con người. Springer, 2013

 

 

Thông tin bổ sung